Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Bình thường
Đẹp
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    bai 22_lich su 10

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Yến Hoàng
    Ngày gửi: 19h:33' 07-04-2010
    Dung lượng: 253.5 KB
    Số lượt tải: 235
    Số lượt thích: 0 người
    Bài 22: TÌNH HÌNH KINH TẾ Ở CÁC THẾ KỈ XVI -XVIII
    I.Tình hình nông nghiệp ở các thế kỉ XVI-XVIII
    Từ cuối thế kỉ XV đến nửa đầu thế kỉ XVII, do nhà nước không quan tâm đến sản xuất, nội chiến giữa các thế lực phong kiến nông nghiệp sa sút, mất mùa đói kém liên miên.
    Từ nửa sau thế kỉ XVII, tình hình chính trị ổn định, nông nghiệp ở Đàng ngoài và Đàng trong đều phát triển.

    Ruộng đất ở cả hai miền được mở rộng, nhất là ở Đàng trong.

    Thủy lợi được củng cố.

    Giống cây trồng ngày càng phong phú.
    Kinh nghiêm sản xuất được đúc kết.

    Ở cả hai miền chế độ tư hữu ruộng đất phát triển. Ruộng đất ngày càng tập trung vào tay địa chủ
    II.Sự phát triển của thủ công nghiệp
    Nghề thủ công truyền thống tiếp tục được phát triển và đạt trình độ cao( dệt, gốm).
    Một số nghề mới xuất hiện như: khắc in bản gỗ,làm đường trắng, làm đồng hồ, làm tranh sơn mài.
    Khai mỏ là một ngành quan trọng rất phát triển ở cả Đàng trong và Đàng ngoài.
    Các làng nghề thủ công xuất hiện ngày càng nhiều.
    Ở các đô thị thợ thủ công đã lập phường hội vừa sản xuất vừa bán hàng (nét mới trong kinh doanh).
    III.Sự phát triển của thương nghiệp
    Nội thương:
    Ở các thế kỉ XVI-XVIII , buôn bán trong nước ngày càng phát triển:
    Chợ làng, chợ huyện… mọc lên khắp nơi và ngày càng đông đúc.
    Ở nhiều nơi xuất hiện làng buôn.
    Buôn bán lớn (buôn chuyến, buôn thuyền) xuất hiện.
    Buôn bán giữa các vùng miền phát triển.
    Ngoại thương:

    Thế kỉ XVI-XVIII ngoại thương phát triển mạnh.

    Thuyền buôn các nước ( kể cả các nước châu Âu: Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp, Anh) đến Việt Nam buôn bán ngày càng tấp nập.
    Họ bán vũ khí, thuốc súng, len dạ,bạc, đồng.
    Mua: tơ lụa, đường, gốm, nông lâm sản.
    Thương nhân nhiều nước đã tụ hội lập phố xá, cửa hàng buôn bán lâu dài.
    Nguyên nhân phát triển:

    Do chính sách mở cửa của chính quyền Trịnh, Nguyễn.

    Do phát kiến địa lí tạo điều kiện giao lưu Đông – Tây thuận lợi.


    Giữa thế kỉ XVIII, ngoại thương suy yếu dần do chế độ thuế khóa của nhà nước ngày càng phức tạp.
    Sự hưng khởi của đô thị
    Thế kỉ XVI – XVIII nhiều đô thị mới hình thành phát triển hưng thịnh.

    Thăng Long- Kẻ Chợ với 36 phố phường trở thành đô thị lớn của cả nước.
    Những đô thị mới như Phố Hiến (Hưng Yên), Hội An (Quảng Nam), Thanh Hà (Phú Xuân – Huế) trở thành những nơi buôn bán sầm uất.
    Đầu thế kỉ XIX do chính sách hạn chế ngoại thương, hạn chế giao lưu giữa các vùng của chính quyền phong kiến, đô thị suy tàn dần
    Nhận xét của thương nhân nước ngoài về đô thị Việt Nam
    Giáo sĩ Bo ri(1618): “Hải cảng đẹp nhất Đàng trong, nơi mà thương nhân ngoại quốc thường lui tới buôn bán, là hải cảng thuộc tỉnh Cacciam (Quảng Nam). Thành phố đó (Hội An) lớn lắm, đến nỗi người ta nói nó có hai thị trấn, một của người Trung Quốc, một của người Nhật Bản”.
    Giáo sĩ Xanh Phan lơ: “Kinh đô của nó (Thăng Long) tôi xem có thể lớn bằng Pa-ri và dân số cũng bằng…Nó nằm trên bờ một con sông gọi là sông Cái, số thuyền bè nhiều đến nỗi ghé vào bờ rất khó khăn”
    Hoặc theo giáo sĩ Marini “có 62 khu phố mà mỗi khu rộng bằng một thành phố nhỏ của nước Ý.Các phố đều đầy thợ thủ công và thương nhân, để tránh nhầm lẫn, mỗi đầu phố đều có một cái bảng hay dấu hiệu ghi rõ phố buôn bán cái gì?”…
    Cầu Nhật Bản
    Phố cổ Hội An
    Phố Hiến xưa
    Phố Hiến ngày nay
     
    Gửi ý kiến