Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Bình thường
Đẹp
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Thành viên trực tuyến

    6 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Văn Học

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Tự làm
    Người gửi: Nguyễn Đức Cảnh (trang riêng)
    Ngày gửi: 15h:31' 24-03-2013
    Dung lượng: 1.2 MB
    Số lượt tải: 64
    Số lượt thích: 0 người
    LẦU HOÀNG HẠC
    (Hoàng Hạc Lâu)

    THÔI HIỆU
    Giới thiệu địa danh
    Hoàng Hạc Lâu là một cái lầu trên mõm Hoàng Hạc Cơ, núi Hoàng Hạc, tỉnh Hồ Bắc.
    Tiểu dẫn
    Thôi Hiệu(704 – 754) quê ở Biện Châu( nay là thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc). Đương thời, Thôi Hiệu rất nổi tiếng; nay thơ của ông chỉ còn lại hơn 40 bài. Trong đó, bài Lầu Hoàng Hạc được coi là một trong những bài thơ hay nhất thời Đường
    Bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, là một trong những bài thơ hay trong hàng trăm vạn bài thơ Đường . Hoàng Hạc lâu, hay đến nỗi tài thơ như Lý Bạch, đến Hoàng Hạc lâu, thấy thơ của Thôi Hiệu đề trên vách, liền vứt bút, không dám đề thơ nữa . Giai thoại là thế, Lý Bạch là thi tiên của đời Đường, là người uống một đấu rượu làm một nghìn bài thơ (Lý Bạch, đấu tửu thi bách thiên) vậy mà phải vứt bút . Bài thơ Hoàng Hạc Lâu có ma lực, và cái hồn của nó hay đến nhường nào vậy ?
    Phân tích bài thơ
    Bố cục : chia làm hai phần
    4 câu đầu : sự hòai niệm quá khứ
    4 câu sau: sự thất vọng trứơc hiện tại , nỗi lòng buồn nhớ quê hương của tác giả
    Tích nhân dĩ thừa hòang hạc khứ
    Thử địa không dư hòang hạc lâu
    Tức( Hạc vàng ai cưỡi đi đâu ,
    Mà đây Hòang hạc riêng lầu còn trơ)
    Ngay từ hai câu thơ khởi đề ta đã gặp một tâm trạng. Nhà thơ không tả về cái đang có mà nhớ về một cái đã có và đã mất . “Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi rồi”. Truyền thuyết kể rằng xưa kia đã có người tiên đến nơi này (Tử An) và từ nơi này (Phí Văn Vi) cưỡi hạc về trời. Người TQ coi hạc là “linh cầm”(chim thiêng).Vậy là người tiên đã cưỡi chim đi mất ”Nơi đây còn trơ lại lầu Hoàng Hạc” một dấu tích kỉ niệm. Ở đây tác giả dựng lên một cặp song phong , nhưng lại là một cặp đối không chỉnh , danh từ “lâu “ không thể đối với động từ “ khứ”. Khứ mang ý nghĩa , “đi” và “mất “
    Đọc – tìm hiểu văn bản
    Hai câu đầu đã thể hiện một sự trống vắng hẫng hụt trong tâm hồn . Nhưng trong hòai niệm của con người , cánh hạc vàng kia vẫn còn day dứt :
    Hòang hạc nhất khứ bất phục phản
    Bạch vân thiên tải không du du
    Dịch thơ : Hạc vàng đi mất từ xưa
    Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
    Ờ đây trong ba câu thơ liền nhau , “ hòang hạc” cứ trở đi trở lai đến 3 lần , mà 2 cả ba lần đều không thực . Cánh hạc vàng trở về trong tâm tưởng chỉ để con người thêm khắc khoải , thấm thía sự mất mát câu thơ không bình yên , một thanh bằng cô đơn quặn hắt , còn nữa thì toàn thanh trắc phủ phàng, ngậm một nỗi nuối tiếc đến thắt lòng
    Đọc – tìm hiểu văn bản
    Từ trong không gian tâm tưởng chiêm vọng bầu trời trống vắng , nhà thơ chuyển điểm nhìn như thể chỉ thấy
    Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
    Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
    (Hán dương sông tạnh cây bày.
    Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non)
    Đẹp lắm!.Nhưng chỉ là một bức tranh tĩnh vật, không còn nữa đâu một cánh chim thần, không còn nữa đâu một thời vàng son lộng lẫy! Nhưng màu xanh mơn mởn của cỏ non làm nhà thơ nhói lòng, chạnh nỗi tha hương.

    Đọc – tìm hiểu văn bản
    Màu xanh thăm thẳm của cỏ non làm nhà thơ nhói trong tâm, kéo nhà thơ về lại với lòng mình, chợt nhận ra mình đang xa cách cố hương:
    Nhật mộ hương quan hà xứ thị
    (Quê hương khuất bóng hoàng hôn)
    Đâu là quê hương ? Đâu là bến đỗ của cuộc đời xế chiều. Nói chi đến chuyện thần tiên quá khứ , ngay cả đến miền quê thân thuộc cũng không rõ được nơi nào sau bóng hòang hôn . Nhà thơ đành bất lực và buông tiếng thở dài :
    Yên ba giang thượng sử nhân sầu
    (Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)
    Tất cả nỗi sầu của không gian , của thời gian , của nhân gian dồn tụ trong một chữ “ sầu”
    Một chữ sầu gói trọn nỗi đau của một đời người , một thời đại . Phải chăng đây cũng là sự nuối tiếc một thời “ Nhật nguyệt lệ thiên” và thất vọng trứơc buổi xế chiều của Thịnh Đường


    Nghệ thuật
    Thôi Hiệu là hay chữ đương nhiên hiểu và sành luật thơ Đường. Nhưng chỗ không đúng luật (vi phạm nhị tứ lục phân minh ở câu 1và 3; hai câu đầu không cần đối thì lại đối; cả cặp đầu lẫn cặp thứ 2, đối ngẫu đều có chỗ không chỉnh; chữ cuối câu thứ nhất không gieo vần; chữ thứ 5 câu 2, 3, 4 cùng thanh với chữ thứ bảy trong câu; từ hoàng hạc được lặp lại 3 lần
    Thôi Hiệu là hay chữ đương nhiên hiểu và sành luật thơ Đường. Những chỗ không đúng luật là dụng ý của tác giả. Bởi vậy, một bài thơ phạm luật vẫn khiến người khác ngẩn ngơ về sự tài hoa.
    Kết luận
    Trong thơ đường không chỉ một Hòang Hạc lâu là gieo nỗi sầu vào chữ cuối . Nhưng chỉ một Hòang Hạc lâu là tạo nên nỗi sầu vời vợi giữa không gian , giữa thời gian và giữa nhân gian.
     
    Gửi ý kiến