Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Bình thường
Đẹp
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Thành viên trực tuyến

    4 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Khe chim kêu - Điểu Minh Giản

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Dương Thị Hoàng Oanh
    Ngày gửi: 08h:55' 15-06-2008
    Dung lượng: 3.7 MB
    Số lượt tải: 852
    Số lượt thích: 0 người
    Khe chim kêu
    (Điểu Minh Giản)
    --Vương Duy--
    Bài thuyết trình của tổ 2

    I.ĐỌC HiỂU CHÚ THÍCH
    Tác giả :Vương Duy , tự là Ma Cật
    -Đa tài ,21 tuổi đỗ tiến sĩ.
    -30 tuổi,vợ mất,ông sống yên tĩnh với chức quan văn nhàn hạ, gảy đàn ,thổi sáo, làm thơ.Mỗi khi bãi triều về, ông “đốt hương ngồi một mình, tụng niệm kinh Phật”.
    -Người đời gọi ông là “Thi Phật”.

    Tô Đông Pha đời Tống khi viết về Vương Duy có câu: "味摩诘之诗, 诗中有画; 观摩诘之画, 画中有诗" (vị Ma Cật chi thi, thi trung hữu họa; quan Ma Cật chi họa, họa trung hữu thi) , dịch nghĩa: Thưởng thức thơ của Ma Cật, trong thơ có hoạ đồ; ngắm họa đồ của Ma Cật, trong họa đồ có thơ.
    2.Tác phẩm:
    Thơ ông để lại trên 400 bài.
    Thơ sơn thủy,điền viên chiếm đa số.
    Mô tả cuộc sống nông thôn yên tĩnh, con người nhàn nhã, lời thơ thấm nhuần cái tâm thanh tịnh của đạo Phật và phong thái vô vi, nhàn tản của Lão Trang.
    II.Đọc hiểu văn bản:
    Nhân nhàn quế hoa lạc
    Dạ tĩnh xuân sơn không
    Nguyệt xuất kinh sơn điều
    Thời minh tại giản trung
    Bản tiếng Hán
    Vương Duy - 王維
    鳥鳴澗
    人閒桂花落,
    夜靜春山空。
    月出驚山鳥,
    時鳴春澗中。
    Bản thư họa viết tay của Xuân Như-
    CLB Trí thức Thư Pháp
    Bức họa của Vương Duy
    Bức họa nàng Tây Thi
    Lưu biệt-Vương Duy
    Bài thơ tả cảnh một đêm thanh vắng tĩnh mịch.
    - Người --- cảnh

    tĩnh động
    Trong đêm tĩnh lặng , nhà thơ có thể nghe được tiếng hoa quế rơi
    Tâm hồn nhà thơ phải thực sự “nhàn” , tĩnh lặng, rỗng không mới có thể nghe và phát hiện được cái động nhỏ bé như thế.
    Trong đêm, cảnh sắc núi xuân vô cùng yên lặng tĩnh mịch , đến độ nhà thơ nghe được cả tiếng hoa rơi.
    Sự giao hòa vô hình giữa người và cảnh một cách tự nhiên.

    Hai câu thơ cuối là miêu tả cảnh động , sáng rõ hơn so với hai câu thơ đầu (trăng lên-chim núi cất tiếng kêu )
    Mặt “động” (hoa rụng, trăng lên, chim kêu) của sự vật đã được làm nổi bật để tô đậm thêm cái “tĩnh” của không gian , cái tĩnh trong lòng tác giả lúc này.Tĩnh từ tâm lan đến cảnh.Động xuất phát từ tĩnh ,nhờ động mà ta càng thấy tĩnh lặng .
    -Bản dịch nghĩa hay hơn so với bản dịch thơ của Tương Như, vì bản dịch thơ đã bỏ mất chữ “tĩnh” là chữ quan trọng làm nổi bật cái tĩnh lặng trong bài thơ.
    -Chữ “hãi” không hay bằng “giật mình” một lần nữa bỏ qua chi tiết quan trọng làm nổi bật cái tĩnh qua cái động của sự vật.
    Lộc trại(trại hươu)
     
    Gửi ý kiến