Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Bình thường
Đẹp
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Thành viên trực tuyến

    5 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Đọc thêm: Đò Lèn

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Tố Uyên
    Ngày gửi: 07h:14' 02-11-2014
    Dung lượng: 5.1 MB
    Số lượt tải: 606
    Số lượt thích: 0 người
    - Nguyễn Duy -
    Đò Lèn
    I. Tiểu dẫn
    II. Đọc – hiểu văn bản
    2. Sự thức tỉnh của người cháu trước quy luật
    của cuộc đời.
    III. Tổng kết.
    Đò Lèn
    - Nguyễn Duy -
    1. Kí ức tuổi thơ.
    Đò Lèn
    - Tên khai sinh: Nguyễn Duy Nhuệ
    Sinh năm: 1948.
    Quê: Thanh Hóa
    - Nguyễn Duy -
    Tìm hiểu chung
    1. Tác giả.
    Xuất thân:
    + Gia đình nông dân nghèo.
    + Sớm mồ côi mẹ, sống với bà ngoại
    Vị trí: ông là một gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ.
    Đò Lèn
    - Nguyễn Duy -
    Phong cách thơ:
    + Thơ ND là sự kết hợp hài hòa giữa cái duyên dáng, trữ tình với chất thế sự đậm đặc.
    + Nhiều bài là tiếng nói khẳng khái, bộc trực, đầy ngang tàng mà trầm tĩnh, giàu chiêm nghiệm và mang tinh thần công dân sâu sắc.
    - ND là một trong số ít các nhà thơ đã góp phần làm mới thể thơ lục bát bằng những tìm tòi theo hướng hiện đại.
    Ông được coi là một Nguyễn Huy Thiệp trong lãnh vực thơ ca
    (theo Nguyễn Hưng Quốc)

    Nhận xét của Trịnh Công Sơn : "Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó..."

    Đò Lèn
    - Nguyễn Duy -
    Bố cục: 2 phần
    + Phần 1 (5 khổ thơ đầu): hồi ức về người bà lam lũ tảo tần bên cạnh sự vô tâm của người cháu.
    + Phần 2 ( khổ cuối ) : sự thức tỉnh của người cháu trước quy luật nghiệt ngã của cõi đời để càng xót xa, hối tiếc.
    2.Bài thơ Đò Lèn
    + Đò Lèn là một địa danh nổi tiếng ở Thanh Hóa trong chiến tranh, quê ngoại của tác giả.
    + Bài thơ được viết vào tháng 9/1983 trong một dịp nhà thơ về thăm quê hương, được in trong tập thơ Ánh Trăng(1984)

    Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
    níu váy bà đi chợ Bình Lâm
    bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
    và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
    Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
    chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
    mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
    điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng
    Đò Lèn
    - Nguyễn Duy -
    II. Đọc- hiểu văn bản
    1.Năm khổ thơ đầu : Kí ức tuổi thơ .
    “ Thuở nhỏ” : chỉ mốc thời gian và chứa đựng, đong đầy nỗi ngậm ngùi.
    Những kỉ niệm ùa về:
    + “ câu cá”, “ níu váy bà đi chợ “, “ bắt chim sẻ” , “ ăn trộm nhãn “, “ xem lễ đền Sòng “
    + Những trò chơi của cậu bé được liệt kê với mức độ dày đặc.
    Cho ta hình dung về một chú bé tinh nghịch, hiếu động.
    Ba trong Năm địa danh được nhắc đến là chùa, đền: Chùa Trần, đền Sòng, đền Cây Thị => Là nơi nhân vật “ tôi “ mải miết với những trò nghịch ngợm của mình, khám phá những điều kì thú.
    - Những kỉ niệm sâu lắng: “ mùi hương trầm”, “ điệu hát văn “
    Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
    bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
    bà đi gánh chè xanh Ba Trại
    Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

    Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực

    Giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần

    Cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng

    Cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm
    Tôi đâu biết : lời tự trách đầy tiếc nuối, xót xa của người cháu khi trưởng thành.
    Thao tác liệt kê: mò cua, xúc tép, gánh chè ->Gợi sự vất vả, cơ cực của bà.Những cơ cực đó lẽ ra không nên có ở những người bà đã đi qua bao nhọc nhằn trong cuộc sống, không nên có ở lứa tuổi lẽ ra phải được thảnh thơi vui vầy bên con cháu.
    Các địa danh: Ba Trại, đồng Quan, Quán Cháo, Đồng Giao -> nơi in dấu chân bà ngoại => Không gian mở rộng, kéo dài theo hành trình lam lũ của bà đồng thời khơi thêm nỗi xót xa trong lòng cháu.
    Thập thững : bước đi không vững chãi, thậm chí còn siêu vẹo của người mắt kém đang phải mang gánh nặng trên vai.
    Những đêm hàn: vừa chỉ thời gian, vừa có giá trị mô tả KG, việc sử dụng từ của tác giả đã mang được cả cái buốt giá của sương đêm.
    Những cơ cực của bóng dáng lầm lũi không được miêu tả chi tiết => hy sinh âm thầm của bà.
    Tôi trong suốt: trong suốt là tính từ chỉ tính chật sự vật, hiện tượng nhưng đã được đưa vào câu thơ đảm nhiệm chức vụ của động từ tình thái.
    Hình ảnh bà được đặt đối sánh, ngang hàng với tiên, Phật, thánh, thần thể hiện lòng ngưỡng mộ, tôn sùng của nhân vật tôi.
    Sự đối lập giữa hai không gian:
    +Hư: không gian tịnh tộ ( tiên, Phật, thánh, thần )
    +Thực: không gian trần tục ( bà tôi, củ dong riềng )
    - Nghe thơm: ẩn dụ chuyển đổi cảm giác ( khứu giác sang thính giác ) đã nhấn mạnh sức ám ảnh của hương thơm quá khứ.
    Bom Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất

    đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

    thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

    bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn
    Hậu quả của chiến tranh: sự hoang tàn, đổ nát
    nhà bà tôi bay mất, đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền.
    Lời kể nhẹ nhàng
    Bay: thực chất là tan ra, là đổ nát, bay còn gắn với cảm thức tiên, Phật.
    Hình ảnh người bà: đi bán trứng ở ga Lèn trong mưa bom bão đạn
    Hình ảnh người bà tảo tần để mưu sinh, kiên cường dẫu có khó khăn.

    Thời gian trôi đi, khi đã trưởng thành, nhận ra những hi sinh lớn lao của bà, đã ý thức được tỉnh cảm, trách nhiệm của mình, cũng là lúc nhân vật trức tình mất bà mãi mãi.
    Những thay đổi khi trở về quê hương:
    + Thiên nhiên : dòng sông bên lở, bên bồi.
    + Bà: chỉ còn là nấm cỏ
    Hai câu thơ cuối gây xúc động trong lòng người đọc, gợi về quy luật trường tồn của thời gian và quy luật nghiệt ngã của đời người.
    Đò Lèn
    - Nguyễn Duy -
    Vô tư
    Vô tâm
    Lúc trưởng thành
    Ân hận muộn màng
    Hình ảnh phong phú
    Từ ngữ gợi cảm
    hồn nhiên
    Tuổi thơ
    III. Tổng kết
     
    Gửi ý kiến